Loading...

Tin tức hoạt động

Bộ NNPTNT trả lời phản ánh về việc quản lý các công ty thủy lợi

02/12/2015

 Theo phản ánh của ông Dũng, từ khi chuyển đổi từ mô hình công ty nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các công ty khai thác công trình thủy lợi hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, được chủ động sử dụng nguồn kinh phí và hàng năm được cấp bổ sung kinh phí cho các khoản cấp bù miễn thu thủy lợi phí, dự án đầu tư và kinh phí chống hạn.

Ông Dũng cho rằng, nguồn kinh phí này không được sử dụng hợp lý nên hiệu quả kinh tế thấp và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường công tác quản lý đối với loại hình doanh nghiệp trên.

Về vấn đề trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời như sau:

Thực hiện Nghị định số 95/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý khai thác, công trình thủy lợi đã cơ bản hoàn thành việc thực hiện chuyển đổi và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ làm rõ hơn về công tác quản lý đối với các nguồn kinh phí cấp cho doanh nghiệp:

Về nguồn cấp bù kinh phí miễn thủy lợi phí

Từ năm 2008, Chính phủ thực hiện miễn thủy lợi phí cho người dân, nên phần thủy lợi phí trước đây doanh nghiệp phải đi thu của nông dân thì nay được Nhà nước cấp. Hàng năm, các đơn vị chức năng của địa phương thực hiện tổng hợp số liệu diện tích - kinh phí được miễn để UBND tỉnh gửi về Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Quốc hội và Chính phủ. Quy trình thực hiện cấp kinh phí miễn thu thủy lợi phí được thực hiện theo Thông tư số 36/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính.

So với khi chưa thực hiện miễn thủy lợi phí, diện tích được tưới hiện nay chưa có tăng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có hai nguyên nhân cơ bản là: Thứ nhất, không còn tình trạng giấu diện tích giữa người sử dụng nước với các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi. Thứ hai, do được nâng cao năng lực tưới bằng duy tu, sửa chữa nhỏ kịp thời và mở rộng diện tích từ công trình mới hoàn thành đưa vào sử dụng.

Về dự án đầu tư

Từ năm 2006 đến nay, kinh phí của Nhà nước khó khăn nên nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản công trình thủy lợi sụt giảm nhiều, chỉ còn nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và vốn ODA, chủ yếu tập trung cho các công trình quy mô lớn, cấp bách.

Công trình thủy lợi hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu, nên không có vốn để sửa chữa sẽ xuống cấp rất nhanh, dẫn đến hiệu quả phục vụ kém. Một phần kinh phí từ miễn giảm thủy lợi phí được sử dụng cho duy tu, sửa chữa thường xuyên và sửa chữa nhỏ nên đã tăng khả năng đảm bảo an toàn, chống xuống cấp công trình, kịp thời tạo nguồn nước tưới tiêu.

Tuy  nhiên, việc sửa chữa nâng cấp công trình thủy lợi cần vốn đầu tư lớn, nhu cầu nhiều do công trình, hệ thống công trình thủy lợi được đầu tư cây dựng và đưa vào quản lý, khai thác đã lâu được sửa chữa, nâng cấp nên không đảm bảo an toàn hoặc không đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu hiện nay.

Về kinh phí chống hạn

Trong vài năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam nên tình hình thời tiết thường xuyên có những diễn biến cực đoan, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp. Chính sách của Chính phủ trong việc cấp kinh phí chống hạn: Trả tiền điện, xăng, dầu tiêu thụ vượt trội để chạy máy bơm chống hạn vượt định mức sử dụng để bơm nước tưới trong điều kiện bình thường. Ngoài ra, kinh phí chống hạn còn dùng để nạo vét kênh mương dẫn nước, hồ đập, cửa cống lấy nước… Hiệu quả của việc cấp kinh phí này chính là người nông dân có đủ nước tưới, đảm bảo năng suất và sản lượng.

Từ năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính đã có nhiều văn bản hướng dẫn sử dụng các nguồn kinh phí này. Sau mỗi năm hoặc khi dự án kết thúc, thanh tra tài chính, thanh tra ngành Nông nghiệp hoặc cơ quan kiểm toán đều tổ chức đánh giá tình hình thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý vốn, quản lý tài chính ở các doanh nghiệp.

Về các công ty khai thác công trình thủy lợi

Công ty TNHHMTV làm nhiệm vụ khai thác công trình thủy lợi trực thuộc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chuyển đổi, cụ thể ở địa phương là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nhưng, về mặt chuyên môn vẫn chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý chuyên ngành của địa phương, như Sở Tài chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy lợi… Hoạt động của các doanh nghiệp phải theo các quy định hiện hành đối với từng lĩnh vực quản lý cụ thể, như Bộ Tài chính hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi và quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước làm nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong việc quản lý lao động, đơn giá tiền lương…

Với trách nhiệm là cơ quan quản lý chuyên ngành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên tổ chức các đoàn công tác đi kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện cơ chế, chính sách lĩnh vực quản lý, khai thác công trình thủy lợi. Tuy nhiên, do nhiều địa phương mới hoàn thành việc chuyển đổi mô hình nên việc thực hiện các quy định nói trên vẫn có nơi, có lúc còn chưa đúng. Do đó, trong thời gian tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện chính sách về quản lý, khai thác công trình thủy lợi.

Qua đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn sự quan tâm, đóng góp ý kiến của ông Nguyễn Văn Dũng đến sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung, của thủy lợi nói riêng.

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng cảm ơn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có thông tin trả lời công dân qua Cổng TTĐT Chính phủ.

Theo Chinhphu.vn