Làm gì để quản lý và khai thác tốt các công trình thủy lợi ?
04/12/2015Bài 1: Thực trang các công trình thủy lợi
Yếu và thiếu đồng bộ
Ngoài một số CTTL lớn có quy mô liên xã mới được đầu tư, nhìn chung các CTTL của tỉnh ở trong tình trạng năng lực yếu, chắp vá và thiếu đồng bộ. Tính đến hết năm 2008, toàn tỉnh có 1.717 công trình thủy lợi các loại. Trong đó 1.249 công trình đã được đầu tư xây dựng kiên cố và bán kiên cố từ mọi nguồn vốn. Còn lại có 468 công trình bai, đập tạm bằng cọc tre hoặc đá xếp thường xuyên biến động sau mỗi mùa mưa lũ. Tuy nhiên sau nhiều năm khai thác, sử dụng nhiều công trình đã bị hư hỏng, xuống cấp, ngoài ra không có kinh phí duy tu sửa chữa thường xuyên nên nhiều công trình không phát huy tác dụng và chuyển sang hoạt động như các bai dâng. Về hiện trạng công trình tưới: Toàn tỉnh còn 33/39 trạm bơm còn hoạt động, cấp nước tưới cho khoảng 2.500 ha. 515 hồ đập vừa và nhỏ, đảm nhiệm tưới 14.500 ha. Các đập dâng và công trình tạm, dã chiến gồm 634 đấp kiến cố và bán kiến cố và 468 công trình trạm, dã chiến, diện tích tưới các công trình này chỉ là 9.000 ha ( vụ chiêm 3.500 ha, vụ mùa 5.500 ha). Hiện nay, các công trình trên chỉ có thể cấp nước tưới chủ động cho 30.000/40.000 ha, đáp ứng khoảng 75% diện tích lúa 2 vụ của toàn tỉnh. Đối với hệ thống công trình tiêu nước do được xây dựng quá ít và hiệu quả tiêu nước hạn chế. Hệ thống tiêu tự chảy có các trục tiêu chính là tận dụng các ngòi tự nhiên và cống ngăn lũ sông để khi có điều kiện thì tiêu nước ra nội đồng. Loại công trình này chủ yếu là tiêu vụ chiêm xuân và ngăn lũ sớm, bảo vệ khoảng 50% diện tích gieo trồng. Còn đối với hệ thống tiêu động lực do kinh phí đầu tư lớn nên nên chưa được đầu tư đồng bộ, dứt điểm nên hiệu quả tiêu úng rất hạn chế. Về hệ thống kênh mương, toàn tỉnh hiện có 2.985 km kênh mương tưới tiêu, đến nay đã kiên cố được 964,5 km. Hệ thống kênh tiêu được hình thành do lợi dụng các ngòi tự nhiên, ít kênh đào, hằng năm các ngòi tiêu thường bị bồi lắng và nhân dân chăn đăng bắt thủy sản gây khó khăn cho việc nạo vét, giải phóng luồng lạch; cùng với đó là nhiều công trinh có tuổi thọ trên hàng chục năm đã xuống cấp nghiêm trọng, giảm hiệu quả dẫn và tiêu nước.
Bất cập trong quản lý, đầu tư và khai thác
Hiện có 2 hình thức quản lý các công trình thủy lợi, bao gồm Công ty Khai thác công trình thủy lợi Hòa Bình (KTCTTL) và các huyện, thành phố. Loại hình nào cũng có những bất cập. Đối với Công ty KTCTTL thực hiện theo Quyết định số 26/1998/QĐ- UBND của UBND tỉnh, Công ty quản lý 135 công trình cùng 2 công trình là Hồ Đầm Bài ( Kỳ Sơn) và đập dâng Suối Hoa ( Thung Nai- Cao Phong). Do vướng mắc, có 8 công trình của huyện Lạc Sơn trong danh mục giao cho Công ty nhưng huyện vẫn đang quản lý. Như vậy thực tế, Công ty hiện quản lý 124 công trình (trừ các xã chuyển về Hà Nội). Nhìn chung các công trình do Công ty quản lý và khai thác khá tốt. Thế nhưng, do đặc điểm địa hình, phần lớn các công trình phân tán ở các xã điều kiện đi lại khó khăn nên việc kiểm tra, điều tiết nước chưa được hợp lý, công tác vận hành ở các đập bai dâng hầu như không có, đối với các hồ chứa khi địa phương có nhu cầu, Công ty mới cửa người xuống vận hành nên mất thời gian và không kịp thời. Trước năm 1998, các xí nghiệp thuộc Công ty ký hợp đồng với các hộ dùng nước, thực hiện thu và thanh toán thủy lợi phí vào cuối vụ thu hoạch. Tuy nhiên, diện tích hợp đồng của Công ty với địa phương rất thấp so với năng lực thực tế, khoảng 2.200 ha vụ chiêm và 2.300 ha vụ mùa. Nguồn thu TLP không đủ cho công tác quản lý và nâng cấp sửa chữa các công trình. Hằng năm, ngân sách tỉnh phải cấp bù 1,3-1,5 tỷ đồng. Năm 2008, thực hiện Nghị định 154/2008/NĐ-CP về miễn thủy lợi phí, công ty được Ngân sách TƯ cấp bù 3,69 tỷ đồng để duy trì hoạt động. Nhiều công trình diện tích phục vụ tưới nhỏ, ở vùng sâu, vùng xa, yêu cầu vận hành đơn gian như các đập bai dâng lại được giao cho Công ty. Trong khi đó có một số công trình có yêu cầu kỹ thuật vận hành cao lại do cho địa phương đã gây ra những khó khăn trong điều hành sản xuất của công ty cũng như công tác vận hành của địa phương.
Hiện nay, tổng số công trình do các địa phương quản lý là 1.125 công trình ( không kể công trình tạm). Tại hầu hết các địa phương trên địa bàn đều có làm dịch vụ quản lý nước theo phương thức các xóm, bản tự lập tổ hợp tác, hoặc cán bộ phụ trách thủy lợi của các xã, hay trưởng xóm, bản trực tiếp quản lý và khai thác công trình. Trước năm 2008, nguồn thu thủy lợi phí hằng năm do tổ tự thu, tự chi; mức thu không tuân thủ quy định theo hướng dẫn nên đã xảy ra tình trạng trên cùng một cánh đồng có 2 mức thu khác nhau, dẫn đến việc thu thủy lợi phí gặp nhiều khó khăn. Có một số địa phương thu thủy lợi phí vào ngân sách xã sau đó điều tiết lại cho công tác quản lý và khai thác, chỉ có một vài địa phương sử dụng nguồn kinh phí thu được để đầu tư sửa chữa, duy tu bảo dưỡng công trình. Hầu hết việc sửa chữa nâng cấp và khắc phục hậu quả dựa vào ngân sách Nhà nước. Phần lớn cán bộ quản lý thủy lợi xã chưa được đào tạo về nghiệp vụ nên năng lực quản lý và khai thác công trình, nhất là một số công trình có yêu cầu kỹ thuật cao như trạm bơm, điện và thủy luân. Đặc biệt khi thực hiện Nghị định 154/NĐ-CP về không thu thủy lợi phí, các địa phương không có kinh phí để phục cho công tác quản lý khai thác. Hiện các công trình do địa phương quản lý đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, hư hỏng, hiệu quả phục vụ sản xuất ngày càng giảm
Bài 2: Cần phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi
Công tác quản lý khai thác các CTTL đang đứng trước những bất cập, cả địa phương và công ty đều muốn được quản lý công trình, trong khi đó tỉnh chưa tiếp cận được nguồn kinh phí cấp bù hỗ trợ thủy lợi phí ước tính hàng chục tỷ đồng/năm. Công tác tổ chức phân cấp hoạt động và phân cấp quản lý khai thác CTTL là yêu cầu bắt buộc. |
“Hai ông” đều muốn công trình
Về bất cập các loại hình quản lý, ông Đoàn Đức Thiện, Phó Chi cục Thủy lợi cho biết: Ở cả 2 mô hình quản lý đều có những ưu điểm và hạn chế. Các công trình do Công ty KTCTTL quản lý mang tính “chuyên nghiệp” hơn vì có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, năng lực đáp ứng các yêu cầu vận hành công trình có tính kỹ thuật cao, cơ chế quản lý tài chính minh bạch, rõ ràng, nhưng nhiều khi chưa phù hợp với thực tế. Còn các công trình do địa phương quản lý gắn với quyền lợi người dân lại chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, các tổ chức quản lý khai thác CTTL nhiều khi mang tính tự phát, cơ cấu tổ chức, quản lý tài chính lỏng lẻo, nguồn nước bị thất thoát nhiều khi hiệu quả tưới thấp. Tuy nhiên lại có thực tế, cả địa phương và công ty đều muốn được giao quyền quản lý các CTTL và đều có những lý do những lý do khá thuyết phục. Về vấn đề này, theo ông Đoàn Đức Thiện: Trước đây, khi chưa có chủ trương miễn thủy lợi phí (TLP), các huyện, thành phố áp dụng theo mức thu chung, tuy nhiên mỗi nơi lại thực hiện theo quy chế riêng, có nơi thu được, có nơi thu được, thực tế đã phát sinh mâu thẫu ở xóm làng. Còn công ty KTCTTL quản lý những CTTL lớn nhưng không được vận hành kịp thời. Nhiều công trình UBND tỉnh đã giao cho công ty, nhưng thực tế công ty không quản lý và vận hành hiệu quả vì ở xa và khó khăn. Ngoài ra còn có quan niệm là công trình của địa phương và công trình của công ty. Thực tế, trong những năm qua, các huyện, thành phố đã khai thác được nhiều nguồn vốn để đầu tư, nâng cấp các CTTL do mình quản lý. Còn các công trình của công ty dù quản lý nhiều nhưng ít, hoặc không được đầu tư nên hiệu quả điều tiết nước phục vụ sản xuất có phần hạn chế. Chẳng hạn xã Đông Phong, huyện Cao Phong có 5 CTTL, trong đó công ty quản lý 1 công trình thì duy nhất CTTL này chưa được kiên cố hóa kênh dẫn nước. Một lý do nữa khiến “hai ông” cùng muốn có công trình là: Từ năm 2008, thực hiện của chương miễn TLP của Đảng và Nhà nước thì địa phương và công ty sẽ được ngân sách TƯ cấp bù do miễn TLP. Theo tính toán diện tích diện tích ruộng 2 vụ hằng năm của tỉnh khoảng 40.000 ha, được các công trình thủy lợi chủ động tưới 80% diện tích và tổng diện tích ruộng 3 vụ khoảng 87.000 ha, cộng với 1.800 ha mặt nước hồ ao được nuôi trồng thủy sản, như vậy mỗi năm tỉnh được ngân sách TƯ cấp bù do miễn TLP khoảng 37,9 tỷ đồng. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc cơ bản theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP và Thông tư 65/2009/BNNPTNT để được miễn TLP cần có đơn vị có đủ tư cách pháp nhân. Trong khi đó phần lớn các công trình địa phương quản lý không có tư cách pháp nhân. Vậy nên chỉ có các diện tích do công ty KTCTTL quản lý tiếp cận được sự hỗ trợ này. Đây là thiệt thòi lớn cho sản xuất nông nghiệp và nông dân của tỉnh. Sau khi có thông tư 65/2009/BNNPTNT hướng dẫn tổ chức hoạt động phân cấp CTTL, ngành chức năng đã có văn bản đề nghị các huyện, thành phố đề xuất các công trình giao cho địa phương, nhưng chưa có địa phương nào báo cáo, hiện nhiều nơi đang duy trì hình thức vận hành CTTL bằng việc huy động đóng góp của người dân ( gọi là trả tiền dầu, điện bơm nước trên diện tích gieo cấy). Trong khi đó công ty KTCTTL đề xuất 229 công trình, mà theo hướng dẫn thông tư 65 thì công ty KTCTTL chỉ còn quản lý 30 công trình.
Tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác CTTL
Đây là lý do tỉnh khởi động đề án 115 triển khai Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định lại mức thu và miễn thủy lợi phí cho nông dân. Nhà nước hỗ trợ kinh phí để duy trì việc quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, quy định chính sách đối với các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi và việc ngân sách Nhà nước sẽ cấp bù do thực hiện miễn thủy lợi phí. Tuy nhiên trong quá trình triển khai Nghị định 115 của tỉnh nhận thấy mô hình quản lý và cơ cấu phân cấp hệ thông công trình thủy lợi của tỉnh đã bộc lộ nhiều hạn chế, không phù hợp với Nghị định 115/2008/NĐ-CP. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn, tiếp nhận quản lý và sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn kinh phí do Nhà nước hỗ trợ cần phải nhanh chóng thành lập mới các trạm thủy nông cấp huyện và đồng thời củng cố và chuyển đổi hình thức hoạt động của công ty khai thác CTLT.
Nhằm giải quyết những vấn đề này, ngành chức năng đã xây dựng đề án Kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi tỉnh Hòa Bình trên cơ sở thực hiện theo thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi. Trong khi đề án đang ở giai đoạn thẩm định, để được hưởng nguồn kinh phí hỗ trợ do miễn TLP năm 2010, UBND tỉnh đã ban hành quyết định 123/QĐ-UBND ngày 27/2/2010 về việc bổ sung nhiệm vụ cho công ty KTCTTL làm nhiệm vụ đầu mối đặt hàng sản phẩm dịch vụ công ích triển khai những công việc theo hướng dẫn của cấp trên. Tuy nhiên, theo ông Đoàn Đức Thiện, Chi cục phó Chi cục Thủy lợi, về lâu dài, đối với tỉnh ta thì việc thực hiện theo thông tư 65/2009/BNNPTNT là yêu cầu bắt buộc. Theo đó công ty KTCTTL chỉ quản lý những công trình lớn và có yêu cầu kỹ thuật vận hành phức tạp mà các tổ chức thủy nông cơ sở không đủ khả năng quản lý và quản lý không hiệu quả (chỉ quản lý 30 công trình). Đồng thời kiện toàn các tổ chức quản lý thủy nông cơ sở để quản lý các công trình thủy lợi hiện có và các công trình do công ty giao lại sao cho các công trình đều có chủ quản lý đích thực. Ngoài mục tiêu tiếp cận và hưởng lợi chính sách cấp bù TLP, khi tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác CTTL theo Thông tư 65 sẽ tạo ra được chuyển biến mới trong nhận thức người dân về công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi; tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong quản lý, khai thác công trình giữa các tổ chức quản lý thủy nông, tiến tới xã hội hóa công tác này; gắn trách nhiệm của người hưởng lới với công trình nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ CTTL, góp phần phát triển sản xuất, thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. LC.
Theo baohoabinh.com.vn

English
